Nếu như thế giới là một cái máy tính

Nếu mà thế giới này là một hệ thống máy tính khổng lồ, con người là một loại chíp bé tí tự vẽ nên thế giới tưởng tượng thì sao nhỉ?
– Những con chíp tự biết mình là con chíp sẽ là triết gia.
– Những con chip hack được hệ thống là các nhà sư Tây Tạng.
– Các vị thần là mạch chủ.
– Nghệ thuật là sản phẩm thật sự của những con chíp.
– Chính trị, thiết chế, văn hoá là những co chế lập trình ngăn cản các con chíp thấy mình giống như một con chíp.

Chủ nghĩa Duy nghiệm từ cổ đại đến thế kỷ XVII

Tags

Thời Hy Lạp cổ đại

  • Aristotle (384–322 TCN)

Phản ứng chống lại cách tiếp cận duy lý của Plato (427–347 TCN), trong những năm cuối đời, Aristotle (384–322 TCN) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những gì các giác quan thu nhận được, nghĩa là nhấn mạnh vào các quan sát. Cách tiếp cận này đã đối ngược sâu sắc với lý thuyết hình thức của Plato – lý thuyết phụ thuộc rất lớn vào các giả thuyết tiên nghiệm. Trong các thời kỳ “giữa” và “sau” của mình, Aristotle ngày càng không đồng ý với các quan niệm của Plato và phát triển một sự kỳ vọng ngày càng chặt chẽ về các khẳng định tường minh bằng thực nghiệm cho tất cả các kết luận. Aristotle còn khẳng định nguyên lý cốt lõi của chủ nghĩa kinh nghiệm rằng tri thức của con người về thực tại được đặt nền móng bằng trải nghiệm từ các giác quan với tuyen bố nổi tiếng: “Không có gì trong trí tuệ mà nó không đến đầu tiên từ các giác quan” (Xem thêm tại chú thích 4).

  • Epicurus (336-264 B.C) – Chủ nghĩa hưởng lạc.

Ph. Epicure (341 – 270TCN) cha đẻ của chủ nghĩa hưởng lạc, xem cảm giác là nguồn gốc duy nhất của tri thức chân lý. Epicure chỉ ra ba tiêu chuẩn quan trọng nhất của chân lý bao gồm cảm giác, dự cảm, xúc cảm. Cảm giác là sự liên kết trực tiếp chủ thể và đối tượng. Càng tiếp cận gần với đối tượng thì tri thức về đối tượng càng chân thực. Các cơ quan cảm giác thường xuyên va chạm với đối tượng hiện thực, nên đã hàm chứa đối tượng hiện thực rồi, vì thế không thể xảy ra lầm lẫn. Phủ nhận vai trò của cảm giác trong nhận thức là phủ nhận chính thực tại hiển nhiên. Xúc cảm là những ấn tượng tác động lên con người và gây ra những ấn tượng nhất định. Có hai loại xúc cảm trái ngược nhau là khoái cảm và đau đớn cùng với hai phản ứng tương tự là ưa thích và né tránh. Khoái lạc và đau đớn tựa như những dấu ấn lành dữ mà thiên nhiên ghi lại trên con đường cuộc sống. Nhưng do chỗ con người luôn phấn đấu vươn tới khoái lạc, nên khoái lạc vừa là khởi điểm vừa là mục tiêu của cuộc sống hạnh phúc.
Epicure cũng khẳng định ưu thế của cảm giác trước lý trí, lưu ý rằng nếu có những sai lầm trong nhận thức thì lý trí phải chịu trách nhiệm trước tiên.

  • Zeno(336-264 B.C)- người mở đầu chủ nghĩa khắc kỷ

Các nhà Khắc Kỉ (đầu thế kỉ III – thế kỉ II Tr.CN) cũng đi sâu vào chi tiết
để cắt nghĩa làm sao con người có khả năng đạt tới tri thức. Họ cho rằng các từ diễn tả tư tưởng và các tư tưởng bắt nguồn từ tác động của một vật nào đó vào trí khôn. Nó in hình ảnh lên trí khôn qua thị giác giống như cái ấn in hình của nó lên miếng sáp. Liên tiếp đối diện với thế giới của các sự vật sẽ làm gia tăng con số của các ấn tượng, phát triển trí nhớ của chúng ta. Các nhà Khắc Kỉ khẳng định rằng mọi tư tưởng đều có tương quan nào đó với các giác quan, cả các tư tưởng diễn tả các phán đoán và suy luận cũng vậy. Tư duy của chúng ta bất kể loại nào cũng đều bắt đầu bằng ấn tượng, và một số tư duy dựa trên những ấn tượng phát sinh từ bên trong chúng ta, như trường hợp các tình cảm. Vì vậy các tình cảm có thể cho chúng ta tri thức, chúng là nguồn của các tri giác rồi các tri giác này lại trở thành nền tảng cho cảm giác chắc chắn. Họ cho rằng mọi tư tưởng đều phát sinh từ sự tác động của các đối tượng vào các giác quan, tức là khẳng định rằng không có cái gì tồn tại thực sự nếu nó không có một hình thức vật chất nào đó.

Các nhà Khắc Kỉ cũng chỉ ra rằng để tránh những biểu tượng phản ánh sai
lạc đối tượng, con người nên rà soát xem:
– Trí tuệ con người có ở trạng thái lành mạnh không?
– Các cơ quan cảm giác có bình thường không?
– Sự thay đổi khoảng cách giữa các đối tượng và tri giác có ảnh
hưởng tới tính chân thực của tri giác về đối tượng không?
– Thời gian cần thiết để tri giác về đối tượng có đầy đủ không?
– Các đặc tính đối tượng có được tri giác đồng bộ không?
– Giữa đối tượng và tri giác có bị cản trở bởi chướng ngại nào
không?


Nếu những vấn đề vừa nêu được giải quyết một cách thỏa đáng, đầy đủ
theo hướng khẳng định thì biểu tượng mà chủ thể có được về một sự vật là sự hội lý trọn vẹn đối tượng hay biểu tượng “Katalèpsis”. Khái niệm Katalèpsis có thể hiểu rộng ra là sự nhất trí giữa chủ thể và đối tượng, hay nói như Zenon (300Tr.CN), sự ôm trọn toàn bộ vũ trụ theo tinh thần hòa điệu tự nhiên – con người. Katalèpsis chính là cơ sở và chuẩn mực của chân lý. . Đối với các nhà Khắc Kỉ, nhận thức bao giờ cũng hướng tới sự hòa điệu thẩm mĩ. Chúng ta nhận thức tự nhiên là để sống cùng tự nhiên. Chúng ta lấy ý nghĩa cao cả của quá trình khám phá thế giới để khám phá chính bản thân mình và từ đó vươn lên tầm cao thiêng liêng nhất. Quy luật tự nhiên chi phối toàn bộ loài người, kể cả nô lệ. Các triết gia Khắc kỷ coi chế độ pháp luật của nhiều nước chỉ là những sự bắt chước không đầy đủ quy luật có sẵn trong chính tự nhiên.Cũng như vậy, ác triết gia Khắc kỷ đã xoá bỏ sự khác biệt giữa cá nhân và vũ trụ, họ còn phủ nhận mọi mâu thuẫn giữa “tinh thần” và “vật chất”.

Thời Trung cổ (TK V- XV)

Vào cuối thời Trung cổ, William Ockham ( khoảng 1300-1350) là đại diện của chủ nghĩa duy nghiệm với quan niệm sự vật cá biệt là cái gì có thể tri thức được trước hết và chính xác nhất. Không có những ý tưởng phổ biến trong Thiên Chúa, trái lại Thiên Chúa chỉ tạo dựng những sự vật cá biệt.

Ông kết luận rằng khi sử dụng những từ ngữ phổ quát, trí tuệ không làm điều gì khác ngoài việc suy nghĩ một cách có trật tự về những sự vật cụ thể. Chỉ có những sự vật cá thể và cụ thể là tồn tại. Các thuật ngữ phổ quát như “người” chỉ về ông A cũng như chỉ về bà B không phải vì có một thực thể thực sự của tính người mà A và B được chia sẻ hay tham dự trong đó mà chỉ vì cái bản chất A cũng giống như cái bản chất B. Các thuật ngữ phổ quát như “người” chỉ là những dấu hiệu hay tên gọi để chỉ những khái niệm mà các sự vật cụ thể làm phát sinh trong trí khôn con người. Cho nên lý trí con người được giới hạn vào thế giới của các sự vật cá thể. (Xem thêm tại chú thích 5).

Như vậy, cho đến cuối thời Trung cổ, trong xu hướng chống lại triết học kinh viện, giáo điều đã xuất hiện tư tưởng đề cao vai trò của thực nghiệm, kinh nghiệm trong quá trình nhận thức. Đó chính là tiền đề cho sự phát triển của khoa học tự nhiên thực nghiệm bắt đầu từ thời Phục hưng.

Thời kỳ phục hưng – TK XVII

Trong xu hướng chống lại triết học kinh viện cuối thời Trung cổ đã xuất hiện việc đề cao vai trò của thực nghiệm trong quá trình nhận thức. Đó là khuynh hướng xuất hiện trong tư tưởng của các đại biểu của chủ nghĩa duy danh như U.Ockham, D. Scotte, R. Bacon… Khuynh hướng này là sự mở đầu cho sự phát triển của khoa học tự nhiên thực nghiệm thời kì Phục hưng và Cận đại.     

Nền khoa học trước đây chịu ảnh hưởng của Aristote, xuất phát từ những giả định siêu hình, từ những định đề do đầu óc con người nghĩ ra. Những giả định đó xuất phát từ một nguyên lí thiêng liêng mà người ta cho là do Thượng đế thiết lập nên. Xuất phát từ những giả định đó, con người phân tích, lý giải và xếp đặt các hiện tượng sao cho chúng có thứ tự hợp lý có thể nắm bắt được bởi đầu óc con người.

Các nhà khoa học thời kì Phục hưng và Cận đại đã đem đến những thay đổi nền tảng nhất trong cách tư duy, và họ đã đạt được thành tích này bằng cách sáng tạo ra một phương pháp để khám phá tri thức. Khác với các nhà tư duy thời Trung cổ phần lớn bắt đầu bằng việc đọc các tác phẩm cổ điển, các nhà khoa học Phục hưng và Cận đại lần đầu tiên nhấn mạnh đến sự quan sát và đặt ra những giả thiết để làm việc. Phương pháp quan sát gồm có hai điều: đó là những giải thích truyền thống về thiên nhiên phải được chứng minh bằng thực nghiệm, vì bây giờ người ta cho rằng các giải thích truyền thống rất có thể là sai, và các nhà khoa học cần phải có các thông tin mới nếu họ muốn vượt qua các biểu hiện bề ngoài của sự vật. Lúc này khoa học khám phá các vật thể trên bầu trời với một thái độ mới, với hi vọng không chỉ tìm ra sự xác nhận các phát biểu của kinh thánh về bầu trời, mà còn tìm ra những nguyên lý và định luật mô tả chuyển động của các thiên thể. Sự quan sát không chỉ hướng lên các ngôi sao mà còn hướng về phía ngược lại, tức là về các thành phần nhỏ bé nhất của thực thể vật lý. Để giúp các quan sát được chính xác, người ta còn quan tâm đến việc sáng chế ra các dụng cụ khác nhau. Tippershey, một người Hà Lan phát minh ra kính viễn vọng năm 1608 và được Galilei sử dụng đầy ấn tượng. Năm 1590, chiếc kính hiển vi phức hợp đầu tiên được chế tạo. Nguyên tắc của phong vũ biểu được khám phá bởi học trò của Galile, Torriceli. Ottovon Gueicke (1602 – 1686) phát minh ra máy bơm không khí, một thiết bị vô cùng quan trọng để tạo chân không cho thí nghiệm chứng minh rằng mọi vật thể với bất kì trọng lượng hay kích thước nào cũng đều rơi với cùng tốc độ khi không có sức cản hay không khí. Với việc sử dụng các dụng cụ và giả thiết tưởng tượng, tri thức mới bắt đầu được mở ra. Galilei khám phá ra các vệ tinh xung quanh sao Mộc, và Anton Leuvenhoke (1632- 1723) khám phá ra các tinh trùng, vi sinh vật và vi khuẩn. Nicolau Coppernicus (1473- 1543) xây dựng giả thuyết về trái đất quay quanh mặt trời, còn Harvey khám phá ra sự tuần hoàn của máu, Robert Boyle (1627- 1691), cha đẻ của hóa học đưa ra định luật nổi tiếng của ông về tương quan giữa nhiệt độ, thể tích và áp suất của các chất khí. Cho đến giữa thế kỉ thứ XVII, khoa học đã được thiết lập vững chắc trên khắp châu Âu. Triều đình và những nhà quí tộc ủng hộ việc nghiên cứu khoa học bằng việc tài trợ cho việc mua sắm thiết bị và thí nghiệm. Triều đình thành lập các trạm quan sát cho các nhà thiên văn, các trường y khoa cho các bác sĩ và các phòng thí nghiệm cho các nhà khoa học.  Nhờ một loạt những thành tựu của khoa học tự nhiên thực nghiệm làm cho con người thấy được sức mạnh của thực tiễn.

Ba đại diện của chủ nghĩa kinh nghiệm Anh được nhắc đến tại đây là Francis Bacon (1561- 1626), John Locke (1632- 1704) và David Hume (1711- 1776). Bacon là người đặt nền móng cho khoa học hiện đại, trong khi đó John Locke là người phát triển chủ nghĩa Duy nghiệm trở thành một học thuyết, và David Hume là người đẩy chủ nghĩa Duy nghiệm lên đến đỉnh điểm và gây ảnh hưởng lớn đến Immanuel Kant – người đặt nền móng cho triết học hiện đại sau này.

  • Francis Bacon ( (1561- 1626)

Bacon không đi sâu vào vấn đề nguồn gốc, bản chất của tri thức mà ông chỉ chú ý nghiên cứu phương pháp nhận thức. Hay nói cách khác ông đi sâu vào vấn đề phương pháp luận và đây là đóng góp lớn của Bacon cho lịch sử triết học và cho sự phát triển của khoa học tự nhiên thực nghiệm. Với phương pháp luận thực nghiệm qui nạp Bacon đã khẳng định dứt khoát nguồn gốc, bản chất của tri thức là kinh nghiệm. Nhưng kinh nghiệm mà Bacon nói đến không phải là kinh nghiệm ngẫu nhiên mà là kinh nghiệm được tổ chức một cách khoa học, hay nói cách khác đó là thực nghiệm khoa học. Bacon phản đối phương pháp của kinh viện triết học Trung cổ, chủ yếu dựa trên phương pháp của Aristote. Ông là một trong những người đầu tiên nhận thấy hạn chế của tam đoạn luận và nói chung của logic hình thức của Aristote mà cho đến lúc đó vẫn được coi là công cụ nhận thức vạn năng. Tam đoạn luận của Aristote, nhất là dưới hình thức diễn giải của phái kinh viện Trung cổ theo Bacon mang nặng tính tư biện và máy móc trong nghiên cứu hiện thực. Phương pháp luận này, dù đảm bảo tính lôgíc chặt chẽ, song theo Bacon, vẫn chỉ ở cấp độ ngữ nghĩa, chứ không phải cấp độ vật thể. Hàng loạt những mệnh đề chặt chẽ về lôgíc, nhưng lại không được kiểm chứng bằng thực nghiệm, do đó trở nên vô bổ. Từ lập trường duy vật, duy nghiệm Bacon cho rằng “sự tinh xảo của giới tự nhiên vượt hơn rất nhiều so với sự tinh thông của lý tính, trí tuệ và tình cảm” (Nguyễn Hữu Vui: 276)

Theo Bacon, đã từ lâu, triết học không còn khám phá ra những điều mới mẻ bởi vì nó sử dụng những phương pháp của triết học kinh viện. Mà sai lầm của các triết gia kinh viện là đã dùng quá nhiều thời gian vào lý thuyết mà không chú ý tới sự quan sát. Ông cho rằng tư tưởng, suy lý chỉ giúp đỡ, bổ trợ cho sự quan sát chứ không thể thay thế hoàn toàn cho nó. Khi bàn đến sự chứng minh, Bacon phê phán hình thức tam đoạn luận là thiếu chặt chẽ. Ông cho rằng, tam đoạn luận gồm các mệnh đề – các mệnh đề của các từ; và các từ đều là những dấu hiệu, ký hiệu của các khái niệm. Ông đặt giả thiết, nếu chính các khái niệm của tâm trí (tức linh hồn của các từ và cơ sở của toàn bộ cấu trúc) được trừu tượng hoá một cách không đúng và quá hấp tấp từ các sự kiện vốn mơ hồ, không đủ xác định, sai lầm trên nhiều phương diện, thì sẽ sụp đổ. Do đó, khi xử lý bản tính của các sự vật, Bacon quyết định sử dụng phương pháp qui nạp trong các thứ đề cũng như trong chính đề, vì ông cho rằng, phương pháp qui nạp là hình thức chứng minh chứng thực cho giác quan, đến gần với tự nhiên hơn. Kế hoạch của ông là tiến hành một cách đều đặn và dần dần từ tiên đề này đến tiên đề khác đển cái chung nhất đến cuối cùng mới đạt được, và khi đạt được rồi, chúng không phải là những khái niệm trống rỗng, mà là những khái niệm đã được xác định đầy đủ. Đó là tất cả những gì tự nhiên được thực sự thừa nhận như những nguyên tắc đầu tiên của nó, được rút ra từ độ sâu của trí tuệ và từ chính cốt lõi của tự nhiên. Cũng chính vì vậy mà trong phương pháp luận của mình, Bacon rất coi trọng vai trò của các phương tiện nhận thức. Ông cho rằng cần phải nghiên cứu tự nhiên với compa và thước kẻ trong tay thay vì tin theo sách vở và truyền thống.

Như vậy, Bacon là người có công đặt nền móng cho toàn bộ khoa học thực nghiệm Cận đại. Mục đích của khoa học theo Bacon là nhận thức các nguyên nhân và mọi sức mạnh bí ẩn của các sự vật nhằm mở rộng sự thống trị của con người đối với giới tự nhiên. Do đó, “khoa học là khoa học kinh nghiệm, và thực chất đó là áp dụng phương pháp hợp lý vào trong các tư liệu cảm tính” (Phan Huy Chính :14). Mặc dù Bacon là một trong những người đầu tiên đưa phương pháp của khoa học thực nghiệm vào triết học nhưng quan niệm duy kinh nghiệm của ông chưa thực sự được luận chứng, phân tích về mặt nhận thức luận. Đòi hỏi tri thức khoa học phải là sự khái quát của lý tính đối với những tư liệu cảm tính nhưng Bacon lại chưa chỉ ra được nguồn gốc của các khái niệm, phạm trù mà lý tính đã sử dụng để tiến hành phân loại, khái quát, qui nạp những tư liệu cảm tính cũng như chưa lý giải được mối quan hệ phức tạp giữa lý tính và cảm tính.

  • John Locke (1632-1704)

Nhắc đến John Locke, người ta hay nhớ đến các tiểu luận về kinh tế và chính trị, tuy nhiên ông cũng là một người có đóng góp lớn vào thuyết kinh nghiệm.

Locke là người đầu tiên tiến hành một cuộc nghiên cứu toàn diện về phạm vi và giới hạn của nhận thức con người. Triết học của Locke chủ yếu đề cập đến những vấn đề nhận thức luận “Đối với mục đích thật sự của tôi, ông viết, chỉ cần nghiên cứu các khả năng nhận thức của con người, việc chúng được vận dụng trong nhận thức khách thể mà sự vật có liên quan là đủ” (Nguyễn Hữu Vui : 286)

Locke mở đầu nhận thức luận của mình bằng việc phê phán học thuyết thừa nhận các tư tưởng bẩm sinh của Descartes và môn phái theo học thuyết trên. Phê phán học thuyết duy tâm trên, Locke tìm cách luận chứng cho sự vô lý của nó. Theo ông, “Để thuyết phục những độc giả không có thành kiến gì về sự giả dối của quan niệm trên, chỉ cần vạch ra tại sao mà mọi người chỉ đơn thuần dựa vào những khả năng của mình, không cần đến những ý niệm bẩm sinh, mà vẫn có thể có được toàn bộ tri thức của mình và đi đến chân lý”. (Nguyễn Hữu Vui : 287)

Locke phản đối chúng là bẩm sinh mặc dù ông không phủ nhận sự chắc chắn của chúng. Chúng là chắc chắn không phải vì chúng là bẩm sinh mà vì trí tuệ khi suy nghĩ về các sự vật hiện thực, không cho phép chúng ta suy nghĩ cách khác được. Hơn nữa còn có vấn đề đặt ra là liệu có học thức phổ quát về các nguyên lý này hay không. Locke nói: “Hiếm thấy các nguyên lý chung này được nhắc đến trong các túp lều của thổ dân Anh điêng, càng hiếm thấy hơn trong suy nghĩ của trẻ con”(Samuel Enoch Stumpf : 216). Như vậy các nguyên lý chung không thể là bẩm sinh được vì chúng không có sẵn trong đầu óc của mọi con người ở mọi dân tộc. Nếu lý luận rằng các nguyên lý này chỉ được nhận biết sau khi trí khôn trưởng thành thì tại sao gọi chúng là bẩm sinh? Nếu là bẩm sinh thực sự thì chúng phải luôn được biết. Nhưng có nhiều trẻ em, Locke khẳng định, thậm chí có nhiều người lớn tuổi nhưng vô học đều không biết cả những điều sơ đẳng. Hơn nữa, Locke cho rằng, nếu thừa nhận các tư tưởng bẩm sinh (tức các chân lý hiển nhiên) thì như vậy toàn bộ quá trình nhận thức trở nên thừa, bởi vì điều đó chẳng khác gì khẳng định rằng nhận thức đã khám phá cho con người những điều mà anh ta đã biết từ trước rồi.

Từ việc phê phán học thuyết thừa nhận các tư tưởng bẩm sinh, Locke kết luận “nếu như chúng ta để ý đến những đứa trẻ mới sinh, thì chúng ta sẽ có ít cơ sở để nghĩ rằng chúng mang đến cho thế gian nhiều tư tưởng. Bởi vì loại trừ có thể có những ý niệm mơ hồ về cái đói, khát, đau đớn mà chúng có được từ trong lòng mẹ thì trong chúng không thể có biểu hiện tí nào của các ý niệm nhất định, nhất là các ý niệm tương ứng với các từ ngữ tạo nên mệnh đề mà người ta coi là những nguyên lý bẩm sinh. Chúng dần dần có được ở trong linh hồn con người nhờ kinh nghiệm, cũng như sự quan sát của con người đối với các sự vật xung quanh” (Nguyễn Hữu Vui: 288).

Như vậy với việc phê phán học thuyết thừa nhận các tưởng bẩm sinh, Locke chỉ ra rằng nguồn gốc tri thức của con người không phải là bẩm sinh, tri thức không phải là sẵn có trong tâm hồn con người từ khi mới sinh ra mà theo đó nhận thức là một quá trình khám phá, phát hiện ra nó. Nguồn gốc nhận thức của con người là kinh nghiệm. Tri thức được giới hạn vào các ý niệm nhưng không phải các ý niệm hay hình thức của Platon, mà là các ý niệm được sinh ra do các sự vật chúng ta kinh nghiệm.

Đối lập với học thuyết duy tâm trên, Locke đưa ra nguyên lý tabula rasa (tấm bảng sạch): “linh hồn chúng ta khi mới sinh ra có thể nói như một tờ giấy trắng, không có một ký hiệu hay ý niệm nào cả”. (Nguyễn Hữu Vui : 288).

Tuy nhiên sự đánh giá của ông về những ý niệm phức tạp do hoạt động của ý thức tạo ra lại không rõ ràng. Một mặt, ông thừa nhận giá trị của chúng khi chúng được tạo ra trên cơ sở cảm giác. Nhưng mặt khác ông lại cho rằng những hiểu biết đó, đặc biệt là những khái niệm trừu tượng, khái quát là mang tính chủ quan, là sản phẩm riêng của ý thức con người mà không phản ánh đặc tính tự thân nào của sự vật. Ở đây có thể thấy sự lúng túng của Locke khi ông phân tích mối quan hệ giữa hoạt động của ý thức và hoạt động của tri giác cảm tính. Nếu như trước khi tri giác thế giới, ý thức con người chỉ là một tấm bảng sạch, không có sẵn một quan niệm suy nghĩ nào cả, thì sau khi cảm nhận sự vật con người lấy đâu ra năng lực sắp đặt, chọn lọc các cảm giác để có thể xây dựng các tri thức phức tạp về đối tượng? Còn nếu như thừa nhận một khả năng suy nghĩ tích cực nào đó của ý thức cùng với năng lực tri giác của giác quan thì cũng phải thừa nhận rằng thuyết ý tưởng bẩm sinh của Descartes không phải không có lý. Chính là do lúng túng như vậy nên sự phản bác của Locke đối với Descartes bị mất đi phần nào sức nặng. Trên thực tế ông đã chịu ảnh hưởng của Descartes khi cho rằng trí tuệ có thể quan niệm được một số thuộc tính của không gian hay lý tính con người mang trong nó ý tưởng về Thượng đế  (Phan Huy Chính : 21).

Đặc biệt học thuyết của Locke về cảm giác đã phản ánh mối quan hệ phức tạp giữa ông và Descartes. Locke chia cảm giác thành “chất có trước” và “chất có sau”. “Chất có trước” là những cảm giác về những thuộc tính số lượng của sự vật như khối lượng, sức nặng, hình dạng, vận động. Các thuộc tính này đều là khách quan, vốn có của đối tượng. “Chất có sau” là những cảm giác về phẩm tính của sự vật như nóng, lạnh, cứng, mềm, chua, ngọt, xanh, đỏ… Những cảm giác này không phản ánh thuộc tính khách quan của đối tượng mà chỉ thể hiện những hiệu quả xảy ra trên giác quan con người.  Sự phân biệt “chất có trước” và “chất có sau” của Locke làm nhớ lại những luận giải của Descartes về thực thể quảng tính. Descartes chia hiểu biết của con người về thực thể này thành hai loại: những quan niệm của tư duy về tính chất chiếm không gian của vật thể và những cảm giác của giác quan về phẩm tính của vật thể như màu sắc, mùi vị. Quan niệm (của tư duy) về quảng tính của vật thể thì rõ ràng, tất yếu, do đó là những tri thức chân thực; còn những cảm giác của giác quan về các phẩm tính của sự vật thì không minh bạch, chỉ cho biết những điều lợi hại đối với sự sinh tồn của ta, cho nên chúng không phải là những tri thức đúng đắn về bản chất của vật thể. Rõ ràng, Locke đối lập với Descartes khi cho rằng những tri thức về số lượng của sự vật không phải là những quan niệm bẩm sinh, mà bắt nguồn từ cảm giác nhưng đồng thời ông lại chịu ảnh hưởng của Descartes khi nhận định rằng những cảm giác về phẩm tính của sự vật (“chất có sau”) chỉ là chủ quan, là kết quả hoạt động của riêng lý tính, không phản ánh cái vốn có của đối tượng. 

Như vậy, nhấn mạnh mối liên hệ giữa cảm giác, kinh nghiệm và những tri thức lý tính, Locke đã bác bỏ tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy lý, cho rằng tri giác cảm tính là hình thức cơ bản của nhận thức, rằng mọi tri thức đều bắt nguồn từ các cảm giác do các giác quan đưa lại. Nhưng ông đã không giũ bỏ hoàn toàn được ảnh hưởng của lập trường duy lý, do vậy sự phê phán của ông chưa thể đánh bật được gốc rễ của chủ nghĩa duy lý. Học thuyết của Locke về nhận thức cũng mở đầu các khuynh hướng đối lập nhau sau này trong chủ nghĩa duy kinh nghiệm thế kỷ XVII – XVIII.

  • David Hume (1711-1776)

Nhắc đến David Hume phải nhắc tới hai luận đề chính của ông – luận đề phản bác lại quan điểm Duy lý và đề cao kinh nghiệm thực tiễn.

Luận đề về nhân quả.

Hầu hết mọi người ở thời điểm đó cho rằng, khi một sự kiện xảy ra tiếp sau một sự kiện khác thì sự kiện thứ hai là hệ quả của sự kiện thứ nhất. Ông ghi nhận rằng, mặc dù ta chứng kiến một sự kiện xảy ra tiếp sau sự kiện kia, ta không chứng kiến bất cứ một quan hệ nào giữa hai sự kiện. Lấy ví dụ về hai quả bi-a: quả bóng đen lăn tới đập vào quả bóng trắng, và quả bóng trắng bắt đầu lăn. Ông nói rằng, thực chất, ta chỉ chứng kiến các sự kiện bóng lăn mà không chứng kiến rằng quả bóng trắng lăn là vì bị quả bóng đen đập phải, (tuy nhiên, ta lại có kỳ vọng rằng quả bóng trắng sẽ lăn sau khi bị quả bóng đen đập phải). Do đó. ta chỉ có thể tin vào các tri thức mà ta thu được từ các nhận thức của mình. Và mối quan hệ nhân quả kia không nằm trong bản chất của sự vật mà chỉ nằm trong tâm thức của ta. Hume thiết lập rằng ý niệm của con người về nhân quả chẳng qua chỉ là sự trông đợi rằng một số sự kiện nhất định nào đó sẽ xảy ra sau các sự kiện khác đã đến trước.

 Luận để về quy nạp

Một ví dụ đơn giản về phương pháp quy nạp là hầu hết mọi người đều chắc chắn rằng mỗi khi thả một hòn đá thì hòn đá sẽ rơi. Nhưng thực tế là người ta chỉ được chứng kiến hòn đá đã rơi nhiều lần, chứ chưa hề chứng kiến rằng hòn đá sẽ rơi, hay luôn luôn rơi. Có thể giải thích rằng hòn đá rơi là do định luật hấp dẫn. Nhưng chúng ta chưa hề trải nghiệm định luật đó, ta mới chỉ chứng kiến các vật rơi.

Cố gắng giải thích bằng một luận cứ viện dẫn đến một “nguyên lý đồng nhất” rằng quá khứ và tương lai tương tự nhau chắc chắn thất bại: Một nguyên lý như vậy có thể đã được thiết lập chỉ từ kinh nghiệm, trong khi kinh nghiệm lại chỉ được chứng minh là đúng trong quá khứ. Vì đã nhiều lần chứng kiến hòn đá rơi, nên chính thói quen đã làm cho ta trông đợi rằng hòn đá sẽ lại rơi khi được thả. Rõ ràng, ta không có cách nào khác là phải dựa vào các kỳ vọng đó, nghĩa là phải học bằng kinh nghiệm. Từ quan điểm thực tiễn, việc đó được đánh giá là hoàn toàn hữu ích. Tuy nhiên, nhìn từ phía lý tính, nó vẫn là một việc làm không hợp lý.

Như vậy chủ nghĩa duy kinh nghiệm trong triết học Tây Âu thế kỉ XVII  ra đời trong bối cảnh khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu. Sự phát triển và những thành tựu mà khoa học tự nhiên thực nghiệm đem lại đã ảnh hưởng đến phương pháp luận của chủ nghĩa duy kinh nghiệm. Bacon là người mở đầu cho khuynh hướng duy kinh nghiệm trong triết học Tây Âu thế kỉ XVII. Qua phương pháp luận của mình, Bacon đã khẳng định nguồn gốc các tri thức của con người là kinh nghiệm cảm tính. Mặc dù là người đầu tiên đưa phương pháp của khoa học thực nghiệm vào triết học nhưng những tư tưởng duy kinh nghiệm của Bacon chưa được phân tích về mặt nhận thức luận. Hobbes là người phát triển các khuynh hướng duy vật duy nghiệm của Bacon và đặc biệt vận dụng nó vào phân tích các vấn đề xã hội. Chỉ đến Locke thì chủ trương duy kinh nghiệm mang nhiều tính phương pháp luận của Bacon mới trở thành một khuynh hướng nhận thức trong triết học. Với việc phê phán gay gắt học thuyết các ý niệm bẩm sinh của Descartes và khẳng định dứt khoát nguồn gốc tri thức con người là kinh nghiệm cảm tính, Locke đã trở thành người mở đầu cho cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy kinh nghiệm trong triết học Tây Âu thế kỉ XVII – XVIII. Tuy đạt nhiều thành tựu trong việc đấu tranh chống lại triết học Kinh viện và ủng hộ sự phát triển của khoa học nhưng nó cũng có hạn chế là tuyệt dối hóa nhận thức cảm tính, chua thấy được vai trò của nhận thức lý tính.

  • Tài liệu tham khảo:
  1. Phan Huy Chính (2000), Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy cảm trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII – Một số vấn đề đặt ra với nhận thức luận của Kant, Luận văn thạc sĩ triết học, Viện triết học, Hà Nội
  2. Samuel Enoch Stumpf (2004),  Lịch sử triết học và các luận đề, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Phan Huy Chính (2000), Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy cảm trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII – Một số vấn đề đặt ra với nhận thức luận của Kant, Luận văn thạc sĩ triết học, Viện triết học, Hà Nội
  3. Nguyễn Hữu Vui (chủ biên) (2007), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Phan Huy Chính (2000), Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy cảm trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII – Một số vấn đề đặt ra với nhận thức luận của Kant, Luận văn thạc sĩ triết học, Viện triết học, Hà Nội
  4. http://triethoc.edu.vn/vi/truong-phai-triet-hoc/thuyet-duy-nghiem/thuyet-duy-nghiem_36.html
  5. https://vi.wikipedia.org/wiki/William_x%E1%BB%A9_Ockham

Something about Foucault

Tags

,

Hôm qua lên thư viện, chợt vớ được quyển Dẫn luận về Foucault (Gary Gutting (2005), Foucault – A very short Introduction) mỏng mỏng nho nhỏ xinh xinh nên mượn về xem thử. Được cầm có 1 tuần thôi nên không viết ra lại chẳng nhớ mình đọc gì.
Cuốn sách trình bày về cuộc đời, phong cách viết, khuynh hướng chính trị và kết lại bằng những ý tưởng trong các tác phẩm chính của Foucault. Tất cả được gói vào 10 chương trong 200 trang sách khổ a5. Phải nói rằng tác giả cuốn sách này nghiên cứu Foucault dày công lắm mới có thể gói gém được tư tưởng đồ sộ của Foucault trong cuốn cẩm nang nhỏ xinh như vậy.

Mục lục cuốn sách.

Ở hai chương đầu, tác giả điểm qua về cuộc đời Foucault và phong cách viết của ông. Ở hai phần này tác giả tập trung vào những nhân tố ảnh hưởng đến lối viết của Foucault: Raymond Russel và Georges Bataille. Bị ảnh hưởng bởi hai tác giả này nênn sự ẩn mình trong tác phẩm và chạm đến ngưỡng điên loạn trong ngôn từ là hai phong cách chính trong lối viết của Foucault. Có thể miêu tả lối viết của Foucault bằng tư tưởng của Russel Văn chương là chìa khoá, không thể biết được khi nào nó mở ra hay khép lại ý nghĩa của tác phẩm mà ông viết.

Chương ba của cuốn sach viết về tư tưởng chính trị của Foucault. Mình rất thắc mắc về phần này khi đọc trong bảng mục lục, vì nó lạc lõng và được kẹp giữa hai phần là phong cách viết (chương 1,2) và dòng tư tưởng chính trong các tác phẩm ( chương 4,5). Tư tưởng chính trị chính là cầu nối cho lối viết và tư tưởng của Foucault sau này. Giống như mọi sinh viên đương thời, Foucault bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa hiện sinh của Jean Paul Sartre và tư tưởng của Marx (ông có gần một năm tham gia Đảng Công sản Pháp). Tư tưởng chính trị nền tảng cho tư tưởng của Foucault và cũng là nền tảng của tư tưởng Hậu hiện đại sau này: Đó là quan điểm Chân lý không mang tính phổ quát và quan điểm Phê phán nên tồn tại ở khắp mọi nơi – tuy nhiên ông không đồng ý việc đưa sự phê phán lên đỉnh điểm – cách mạng luôn chứa đựng mầm mống của Bạo lực. Tư tưởng phê phán ấy đã ảnh hưởng nhiều đến các tác phẩm trong lĩnh vực nghiên cứu văn hoá hiện nay – phê phán Tư bản đang là hướng đi chính của rất nhiều tác phẩm Nhân học hiện đại.

Hai chương tiếp theo: Khảo cổ luận và Phả hệ miêu tả dòng tư duy của Foucault xuyên suốt các tác phẩm của Foucault.
Trong chương khảo cổ luận, tác giả miêu tả Foucault như một người viết Lịch sử, nhưng theo một cách hoàn toàn khác: Lịch sử không mang tính chủ thể. Trước đây, khi viết Lịch sử, người ta luôn viết rằng Lịch sử thời kỳ này ảnh hưởng bởi những nhà tư tưởng lón nào, nhưng Foucault đã làm ngược lại. Ông đã làm mờ đi khuôn mặt của những nhà tư tưởng, và cố kết nối những điều kiện xã hội nào đã làm con người sản sinh ra các tư tưởng như vậy ( mà ông gọi là “điều kiện khả thể”). Ví dụ trong tác phẩm Lịch sử của bệnh điên, Foucault đã chỉ ra ý niệm của con người về bệnh điên trước và sau thế kỷ 18 rất khác nhau: Trước đó, bệnh điên chỉ được coi là những kẻ bên lề, và thường được quản thúc trong nhà và được đi lang thang trong ngõ xóm. Tuy nhiên sau thế kỷ 18, với sự phát triển của Tư bản, nhu cầu quản lý con người tăng, các trại thương điên đã dần mọc lên như nấm. Hoặc khi mở đầu tác phẩm Trật tự của vạn vật, Foucault đã trích dẫn một đoạn miêu tả con vật của Bách khoa thư Trung Hoa “thuộc về hoàng đế”, “chó đi lạc”… để lộ ra một tư duy khác biệt hoàn toàn với chúng ta hiện nay, để cho chúng ta thấy rằng các khái niệm mà chúng ta đang sử dụng hiện nay không có tính phổ quát, nó chỉ đúng trong một khoảng thời gian nào đó. Như vậy, đối với những khái niệm mang nặng tín chính trị và đạo đức, chúng ta sẽ đặt nó vào bối cảnh lịch sử và xem xét xem từ khi nào mà con người lại sản sinh ra những khái niệm đó.

Tiếp theo với chương phả hệ học, Foucault lần theo các dòng tư duy của con người về đạo đức. Tư tương của Foucault bị ảnh hưởng bởi Nietzsche, tuy nhiên cách làm của ông tỉ mỉ và tổng quan tài liệu tốt hơn nhiều so với sự suy đoán cảm quan của Nietzsche. Thông qua quá trình khảo sát các luồng tư duy của con người trong lịch sử, Foucault mở ra mối liên quan giữa tri thức và quyền lực – Quyền lực không đơn giản chỉ nắm giữ, loại bỏ tri thức mà còn sản sinh ra tri thức. [Ai là người được quyền sản xuất ra tri thức? Chẳng phải là các nhà nghiên cứu thuộc các Viện hàn lâm của chính phủ hay sao? Nếu một nghiên cứu cho rằng đồng tính là bệnh hoạn, hay tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng nguyên thuỷ của Việt Nam, thì tất cả mọi người đều cho đó là chân lý. Chân lý đó sẽ tạo nên quyền lực của đám đông, quyền lực ấy ken đặc đến mức nhóm thiểu số vô tình thuộc nhóm còn lại chắc chắn sẽ bị xử tử).

Chương tiếp theo “Triết gia đeo mặt nạ” phân tích tính triết học của Foucault. Ông kế thừa tư tưởng của Kant và Heddeiger cũng như chịu ảnh hưởng của phong trào hiện tượng luận (đầu thế kỷ 20) và cấu trúc luận (giữa thế kỷ 20) nhưng Foucault không phải la triết gia thuần tuý ( chiếu theo định nghĩa triết học hiện đại của Kant, triết học là lĩnh vực tư duy và lý thuyết riêng biệt, đặt cạnh vật lý, toán học và các ngành học khác). Phần này tập trung vào lý giải hệ hình phê phán cua Foucault. Mình đọc chương này khá đuối vì bản thân cũng mới mon men đến Kant nên bỏ qua =))

Bốn chương tiếp theo là nội dung của bốn chủ đề nổi bật trong các cuốn sách củ Foucault: Bệnh điên , Tội ác và trừng phạt, Tính dục hiện đại (cuốn Lịch sử tính dục), Tính dục cổ đại.

Trong chương về bệnh điên, sự phê phán của Foucault không tập trung vào các trại tâm thần mà sự phê phán của ông tập trung vào cách người ta nhận thức bệnh điên như một sự vượt quá giới hạn cho phép thay vì nhìn nhận bệnh điên như một dạng tồn tại khác của tính người. Từ nhận thức đó, Foucault móc nối đến vấn đề Quyền lực, ban đầu là tính thẩm quyền của bác sỹ tâm thần, sau đó ông khai mở rộng ra thành sự thách thức đối với lý tính.Ở cái thời đại lý tính đè bẹp con người như hiện nay, thì Foucault đã tạo ra một diễn ngôn về bệnh điên để làm thế đối chọi lại với nó. Foucault nhấn mạnh sự nhận thức của người điên cũng là một dạng kinh nghiệm – nó khác với người khác, nhưng không thể chỉ vì ta không cảm nhận được như vậy mà phủ định sự tồn tại của loại kinh nghiệm đó. Foucault phát triển một loại khái niệm mới “tri thức là sai lầm”. Sai lầm – cũng giống như cách ta nhìn nhận bệnh điên – chỉ là sự vi phạm các giới hạn được đặt ra bởi khái niệm của chúng ta. Sai làm đem lại sự nổi loạn cho tư duy về tính chuẩn mực, làm bước khởi đầu cho nghệ thuật tiên phong. Suy cho cùng, tư tưởng của Foucault mang tính nhân văn khi không để bất kỳ điều gì – kể cả lý tính – đè bẹp con người.

(Nhắc đến đây, mình nhớ đến cuộc trò chuyện với Kiếm. Kiếm bảo rằng nghệ sỹ luôn muốn đẩy mình đến ngưỡng điên dại nhất, vì chỉ khi đạt đến ngưỡng đó họ mới thoát khỏi những cái gì họ được “dạy” và thực sự trở về với những gì bản thân họ vốn là. Học mỹ học chỉ để hiểu quan điểm của người khác về cái đẹp – còn cái đẹp tự thân nó vốn đã nằm ở chính tác phẩm. Khi nhìn một tác phẩm mà ta chỉ được ra nó đẹp ở đâu – tức là sử dụng lý tính – thì nó không còn đẹp nữa. Đọc xong chương về bệnh điên mình nghĩ, ừ cái đẹp ấy nó giống với bệnh điên của Foucault biết nhường nào.)

Baloon Dog – Jeff Koons – Nghệ thuật chạm ngưỡng điên hay chỉ là một đống bullshit?

Chương tiếp theo, Tội ác và trừng phạt tập trung phân tích tác phẩm Kỷ luật và trừng phạt. Chủ đề phê phán chính của Foucault trong cuốn sách này chính là chủ nghĩa toàn trị – những kỷ luật của nhà tù đã được mô phỏng lại trong hệ thống trường học, bệnh viện ngoài xã hội. Cùng một cung cách quản lý, coi giữ, sắp xếp, chúng ta đã biến xã hội thành một cái nhà tù khổng lồ.

real-panopticon
Ảnh: nhà tù kiểu xây tròn (Panopticon) của Bentham nhằm tối giản hoá lính canh mà vẫn đạt hiệu quả lớn nhất. Các lính canh sẽ ngồi trong trạm quan sát và nhìn các xà lim một cách tình cờ. Nhưng tù nhân không có cách nào biết được mình có bị quan sát hay không, vì vậy họ tự cho rằng bất kỳ lúc nào mình cũng có thể bị quan sát, do vậy quyền lực được thiết lập một cách tự động.

Khác với Lịch sử bệnh điên, Foucault không tập trung vào “kẻ khác” và lấy đó làm thế đối lập với xã hội mà để xã hội tự hiện ra với vô số quyền lực được phân tán khắp mọi nơi: Trường học, bệnh viện, nhà máy… như một kết quả tình cờ của nhiều nguyên nhân không liên quan đến nhau. Điều này đã đả kích mạnh mẽ lên chế độ toàn trị khi chế độ này cố cho rằng Quyền lực của giai cấp lãnh đạo là tất yếu, mọi quyền lực đều được giành giật qua các cuộc cách mạng lật đổ.

Foucault cũng đặt ra khái niệm về những con người bị lề hoá. Đó là những cá nhân được xác định bởi một trong hai hoặc cả hai lý do sau: 1. Cuộc sống của họ được xác định bởi những giá trị trái ngược với trào lưu chính trong xã hội (người đồng tính, người nhập cư, tín đồ tôn giáo phi chuẩn) hoặc một nhóm người mà phúc lợi của họ phụ thuộc hoàn toàn vào các nhóm trong trào lưu chính ( công nhân di cư, gái bán hoa, tù nhân trong các trại cải tạo). Trái với người điên, loại người bị lề hoá này thách thức những giá trị quy chuẩn của xã hội, và chúng ta có xu hướng nói hộ cho những nhóm người này thay vì để họ tự nói lên tiếng nói của chính họ. Ý tưởng của Foucault là làm thế nào để tầng lớp ngoài lề này được tương tác với dòng chảy chính thống, và chúng ta- những người nằm trong dòng chảy chính thống, có thể và có khả năng khoan dung với họ.

Hai chương cuối viết về Tính dục – chủ đề ông quan tâm đặc biệt trong những năm cuối đời.

Trong quyển Lịch sử tính dục, Foucault tiếp tục nghiên cứu tính dục trong xã hội hiện đại theo phả hệ học. Ông đưa mối quan tâm chính của mình về mối liên quan giữa những kiến thức hiện đại về tính dục và quyền lực trong xã hội hiện đại. Trọng tâm của khía cạnh này trong bàn luận của Foucault là phê phán một giả định phổ biến của thời hiện đại: Bản năng tình dục bị chống đối, bị đè nén trong chừng mực có thể. Ông không phủ nhận sự đè nén, nhưng đó chỉ là vẻ bề ngoài. Sự thật là các cuộc thảo luận về tính dục đã bắt đầu từ thế kỷ 17 thông qua việc xưng tội, trong đó người xưng tội phải kể chi tiết không chỉ hành động – mà còn là ham muốn thầm kín của họ. Và việc định hình tôi là gì về mặt tính dục sẽ được định hình qua tội lỗi mà họ nhận được. Tiếp theo, phần quan trọng của lịch sử tính dục là sự mở rộng Tôn giáo vào cuộc sống thế tục. Khi Thiên chúa giáo và nhà thờ mất đi vị trí đọc tôn của mình trong xã hội, những con chiên lại bắt đầu thú tội với bác sỹ tâm lý, bạn thân hoặc với chính. Và họ tự xác định bản chất khả năng tình dục của mình thông qua những “chuyên gia” trong khoa học hiện đại về tính dục: Freud, Magaret Mead.. Những gì các chuyên gia này trình bày chỉ để tạo một chuẩn mực xã hội mới nhưng họ lại cho rằng đó là những phát hiện mới về bản chất con người.

Từ sự phê phán giả thuyết đè nén, Foucault kết nối quyền lực với những tri thức kho học về tính dục hiện đại. Cụ thể hơn, những tri thức này tạo thành quyền lực quản lý sự sống : Ở cấp độ cá nhân, các chuẩn mực hiện đại tạo thành một tiêu chuẩn cho sự “bình thường” – ví dụ như những kieesn thức về béo phì sẽ khiến cho người béo bị gạt ra bên lề..; Ở cấp độ xã hội, nó liên quan đến nguồn nhân lực của một quốc gia cần được “bảo vệ” và “cải thiện” – ví dụ như các chính sách dân số, chính sách y tế và giáo dục để đảm bảo một lực lượng lao động phù hợp cho tư bản…

Đáng lẽ Foucault sẽ tiếp tục xuất bản thêm các cuốn sách về Trẻ em, phụ nữ, người đồng tính và các thiết chế xã hội liên quan đến Giới để bỏ sung thêm luận điểm cho sự phê phán này. Nhưng ông lại đột ngột chuyển hướng khi ông quan tâm đến “lịch sử của chủ thể”. Ông nhận ra con người không chỉ đơn thuần tiếp nhận các tri thức, mà còn kiến tạo ra bản thân mình thông qua các tri thức đó. Trong cuốn Kỷ luật và trừng phạt, ông đã có vài lần nhận xét rằng những người bị kiểm soát thông qua một cách nào đó mà đã nhập tâm hóa và tự kiểm soát chính mình. Quan điểm mới này khiến Foucault chuyển hướng sang nghiên cứu những “điều kiện khả thể” hình thành cái tôi của mỗi cá nhân. Quay lại chủ đề Lịch sử tính dục, Foucault có sự chuyển hướng đột ngột khi cho rằng nghiên cứu của mình cũng góp phần kiến tạo nên các định nghĩa để các cá nhân qua đó mà nhập tâm vào việc định hình mình là ai – quá trình đó ông gọi là “biến cá nhân thành các chủ thể”. Như vậy, sau tập Lịch sử tính dục, ông đã không viết thêm những series đào sâu thêm những phê phán về tri thức tính dục hiện đại nữa, mà ông chú trọng đào sâu về Lịch sử của tính chủ thể – ông quay lại thời Hy Lạp cổ đại để tìm hiểu xem những yếu tố nào chi phối tới tính chủ thể của tính dục con người. Và đó cũng là chủ đề xuyên suốt hai cuốn sách cuối cùng của ông mang tên Sử dụng lạc thú và Chăm lo bản ngã.

Hai cuốn sách này là một bước chuyển hòn toàn khác của Foucault khi ông không còn đặt nặng quyền lực và những đối tượng bên lề vào trọng tâm tác phẩm. Khi không còn nghiên cứu bức tranh của đời sống hiện đại nữa mà quay lại thời Trung cổ, Foucault không còn lần theo dấu vết của Quyền lực hiện đại nữa, thay vào đó ông chú tâm hơn vào nghệ thuật tồn tại của người cổ đại, cách họ định hình cái tôi của mình. Khái niệm Vấn đề hoá – những vấn đề và lựa chon qua đó các cá nhân đối mặt với sự tồn tại của họ được nêu bật lên so với chủ đề tri thức – quyền lực trong các tác phẩm trước đó.

Kết thúc cuốn sách, tác giả nhận xét rằng trong giai đoạn cuối đời, Foucault đã vượt qua được cái gọi là hoài nghi chân lý – luôn gắn liền với tri thức và quyền lực – để sang giai đoạn nắm bắt chân lý – như một loại đạo đức học, như một loại lối sống. Chân lý ở đây không phải là chân lý toàn năng do Chúa tạo ra – chân lý ở đây là 1. Sản phẩm của quá trình sáng tạo ra bản ngã cá nhân giống như việc tạo ra tác phẩm nghệ thuật; 2. Sự thật như một đức hạnh xã hội.

Như vậy, khi ta ra đời thì chan lý đã tồn tại xung quanh ta. Khi ta lớn, quá trình nhập tâm hoá vào các tri thức đã khiến chúng ta lựa chọn những điều ” có ý nghĩa” theo một quy tắc đạo đức và mỹ học nào đó, lúc đó chính là lúc chân lý được tạo ra. Chân lý mới được chủ thể sáng tạo đó lại được tiếp tục nhân rộng và được xã hội đó nhập tâm hoá trở thành một đức hạnh của xã hội.

Ta có thể nói tư tưởng của Foucault hàm chứa sự khoan dung rất lớn khi nói rằng mỗi cá nhân, mỗi xã hội đều có chân lý riêng để theo đuổi không? Hay nó lại gây hoang mang cho con người khi nhận ra thế giới này vốn là sản phẩm của sự kiến tạo?

Daft Punk

Daft Punk Alive 2007

Đây là album tour lưu diễn duy nhất của Daft Punk vào năm 2007. Remix lại các bài cũ thôi mà ra được nguyên album. Và nó đỉnh thực sự.

Nếu bạn thực sự đỉnh thì bạn chả bao giờ lo về vấn đề bản quyền. Vì ai bắt chước bạn thì cũng chỉ là cái bóng của bạn thôi. Nhạc Daft Punk chỉ Daft remix được. Nhạc Michael chỉ Michael hát được.

Hãy tạo ra một sản phẩm mà người khác không thể sao chép.

[ Nhân một ngày hơi mệt, kể lại chuyện đi Vipassana]

Bình thường mình xử lý cảm xúc của mình rất chậm hoặc không xử lý được, nếu gặp những người khó đỡ là mình giữ sự bực mình rất lâu, ảnh hưởng đến tâm trạng cả ngày hôm đó (hoặc cả tuần). Mình không tách được cảm xúc và công việc khác, thế là mọi thứ vo thành một cục rối lung tung. Hôm nay tình hình cải thiện khá nhiều, lúc cảm thấy sắp cáu gắt là mình đi ra ngoài 3p chỉ để quan sát cảm xúc của mình, đi vào và khoảng 1 tiếng sau đó cảm giác tiêu cực biến mất dần, và mình lại auto dễ thương như một thiếu nữ e lệ.

Tuy mình vẫn mất ngủ theo chu kỳ và thi thoảng có bị depressed, nhưng nó đã dãn cách khá xa so với đợt điều trị đầu năm nay. Tin vui là đợt vừa rồi mình có làm test tâm lý, mình đã quay lại trạng thái gần như bình thường và dứt hẳn với Valium sau một năm vật lộn với X cấp độ 2 hihi.

Come on, girl.

Hôm nay mới thấy công dụng của việc thiền Vipassana giúp mình giữ trạng thái tâm lý cân bằng.

Điều lợi lớn nhất mà Vipassana mang đến cho tớ là sự bình tâm thông qua quan sát. Kiến thức học được giờ rụng gần hết rồi nhưng mình nhớ nhất hai phần trong pháp thoại: Sự vô thường và tính Phật trong tâm mình.

    Sự vô thường dạy ta rằng mọi thứ ràng buộc ta trên đời nằm trong sự tưởng tượng của ta, chúng ta có quyền lựa chọn nhiều hơn ta tưởng.
    Đi theo Đức Phật nghĩa là ta đi theo Phật tính của Ngài, chứ không phải con người của Ngài. Phật không nằm trong bức tượng kia, không nằm trong quyển kinh sách nọ, Phật nằm ở trong mỗi người. Chúng ta ai ai đều cũng có thể thành Phật.

Mình sẽ dùng một đoạn mình viết sau khi đi Vipassana về để làm kết cho một ngày xinh xắn như hôm nay:

“..Dù còn nhiều chấp ngã, dù đôi khi còn để cái tôi đè bẹp cuộc sống, nhưng quan trọng là mình đã bắt đầu học cách chấp nhận chính mình. Bằng cách ngưng đưa ra các giả định, hãy nhìn sự thật như nó vốn là. Ta sống và đóng góp nguồn lực cho kẻ khác không phải vì mong một kiếp sau sung sướng, ta đơn giản chỉ là đang tận hưởng hiện tại – tận hưởng mọi trải nghiệm vui buồn của một kiếp sống trên nhân gian này.

Mình là một đứa trẻ may mắn – và sẽ luôn luôn là như vậy.”